Chào mừng quý vị đến với website của ...

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

Giáo dục trẻ tự kỷ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thúy Tiếp
Ngày gửi: 09h:59' 24-03-2016
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 17
Số lượt thích: 0 người
Một số liệu pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ
Phối hợp giác quan (Sensory integration)
Phân tích hành vi ứng dụng (ABA)
Hệ thống hình ảnh giao tiếp (PECS)
Floortime
TEACCH
Phối hợp giác quan
(Sensory Integration)
Knickerbocker (1980): Nhiều hành vi của trẻ tự kỷ có thể liên quan đến sự phản ứng quá mức hoặc phản ứng dưới ngưỡng với các thông tin cảm tính nhận được.
Ornitz (1985, 1993): Người tự kỷ gặp khó khăn trong việc tiếp nhận, điều chỉnh và kết hợp các kích thích từ các giác quan. Ông cho rằng sự khác nhau trong quá trình xử lý thông tin cảm tính này có thể góp phần tạo ra các hành vi tự kích thích và sự không ổn định/đồng đều trong các cấp độ kích thích.
5 thành tố của phối hợp giác quan
Sự tiếp nhận kích thích của giác quan
Định hướng
Diễn giải
Tổ chức phản ứng/đáp ứng
Thực hiện phản ứng
Tiếp nhận kích thích
“Ngưỡng cảm giác”
Những ví dụ về sự phản ứng quá mức

Lo lắng, khổ sở với một số âm thanh
Nhạy cảm với ánh sáng
Không thoải mái với một chất liệu vải vóc nào đó
Ghét một mùi hay vị nào đó
Sợ hãi một cách vô lý đối với độ cao và chuyển động
Thường giật mình


Những ví dụ về sự trơ lì trong phản ứng
Không để ý đến những âm thanh lớn, đột ngột
Không có ý thức về sự đau đớn của vết sưng, vết cắt, vết thâm…
Không giật mình
Thiếu chú ý đến môi trường, con người và sự vật xung quanh
Không bị chóng mặt khi quay tròn
Phản ứng chậm
Định hướng
“Điều hành giác quan”
Hưng phấn và ức chế không cân bằng
Giải mã
Phản ứng “sợ hãi, bỏ chạy hay chống trả”
“Phòng vệ cảm giác”

Ví dụ về hành vi phòng vệ cảm giác
Phòng vệ xúc giác – tránh đụng chạm với người khác; không thích các trò chơi “dơ bẩn”; bị những chất liệu vải nhất định hoặc các nhãn hiệu gắn trên quần áo gây rát.
Phòng vệ với các vận động thay đổi trọng tâm – sợ hoặc không thích chuyển động và thay đổi vị trí cơ thể; không thoải mái với sự thay đổi vị trí của đầu; sợ khi chân không chạm đất.
Phòng vệ thính giác – quá nhạy cảm với âm thanh lớn, ngoài ý muốn hoặc những âm thanh cụ thể; sợ một số thiết bị như máy hút bụi, máy sấy tóc.
Phòng vệ thị giác – quá nhạy cảm với những ánh sáng mạnh hoặc các dạng ánh sáng khác nhau; tránh né ánh nắng hoặc nheo mắt dưới ánh nắng; tránh giao tiếp mắt; không thích ánh sáng từ ti vi và máy vi tính.
Phòng vệ tiếp xúc miệng – kết hợp giữa việc quá nhạy cảm xúc giác, khứu giác và vị giác; không thích một số thức ăn; khó khăn khi đánh răng và rửa mặt.
Những phòng vệ khác – có thể là quá nhạy cảm với mùi và vị; một số trẻ có thể bịt miệng khi ngửi thấy một số mùi; có thể nhận ra ngay một nhãn hiệu thức ăn khi nếm.
Tổ chức phản ứng
Phản ứng cơ thể - “Tôi sẽ đập con muỗi”.
Phản ứng cảm xúc – “Tôi bực quá. Tôi không muốn muỗi cắn mình.”
Phản ứng nhận thức – “Tôi chọn cách lờ con muỗi đi.”
Thực hiện phản ứng
Lập kế hoạch vận động là năng lực thực hiện các hoạt động có mục đích.
Các bước lập kế hoạch hành động
Xây dựng ý tưởng
Sử dụng thông tin phản hồi từ giác quan để xác định vị trí bắt đầu của cơ thể (đường dây liên hệ ngược)
Khởi động
Sắp xếp trình tự các bước của hành động
Điều chỉnh các hành động
Dừng hành động
Mất khả năng phối hợp giác quan
Những phản ứng không phù hợp hoặc không ổn định với các kích thích giác quan
Khó khăn trong việc sắp xếp và phân tích thông tin cảm tính
Giảm năng lực liên kết hay “phối hợp” các thông tin cảm tính
Hạn chế năng lực đáp ứng một cách có nghĩa và phù hợp với những thông tin cảm tính
Khó khăn trong việc sử dụng thông tin cảm tính để lập kế hoạch và thực hiện hành động.
Một số dấu hiệu
Quá nhạy cảm, quá trơ lì với các kích thích giác quan hoặc hỗn hợp cả hai biểu hiện trên
Né tránh các cảm giác
Tìm kiếm cảm giác
Tư thế cơ thể thiếu tự tin
Hạn chế trong lập kế hoạch vận động
Phối hợp hạn chế, kết quả vận động không ổn định, khó khăn khi học nhiệm vụ vận động mới
Dễ bị phân tán, hạn chế về kỹ năng tập trung
Quá tỉnh táo, mức độ hoạt động cao, quá cảnh giác
Thiếu tỉnh táo, mức độ hoạt động thấp, chỉ biết đến mình, thụ động/thờ ơ.
Quá tỉnh táo, mức độ hoạt động cao, quá cảnh giác
Thiếu tỉnh táo, mức độ hoạt động thấp, chỉ biết đến mình, thụ động/thờ ơ.
Định hướng can thiệp
Điều hòa mức độ tỉnh táo
Tăng năng lực tập trung và giảm sự phân tán chú ý
Giảm căng thẳng
Tăng sự thoải mái trong môi trường
Giảm các hành vi rập khuôn hoặc tự kích thích
Phát triển động cơ bên trong
Tạo điều kiện cho các tương tác chủ động với bạn và với người lớn
Thúc đẩy giao tiếp
Cải thiện nhiều kỹ năng và tăng tính độc lập
Rối loạn chức năng xúc giác
Mỗi lần mẹ cố gắng đánh răng cho Sarah, cô bé bực bội và la hét. Người mẹ luôn cố ôm chặt cô bé trong lòng và giữ hàm răng của cô bé để đưa bàn chải đánh răng vào miệng Sarah. Việc đánh răng nhanh chóng kết thúc (trong vật lộn), hoặc Sarah cắn bàn chải đánh răng và cố gắng bỏ chạy. Cô bé cũng phản ứng như vậy khi cắt móng tay, chải đầu và tắm. Sarah không muốn học cách để tự làm những việc đó. Mẹ của cô bé không thể hiểu tại sao những việc đó lại gây ra nhiều sự khó chịu cho cô bé nhiều đến vậy.
Quá nhạy cảm
Kém phân biệt xúc giác
Kĩ năng vận động tinh của Max đang phát triển rất chậm. Cậu gặp khó khăn với nút và khóa kéo. Cậu không thể học được cách buộc dây giày vì dây buộc cứ tuột khỏi tay. Max có hạn chế về thời gian chú ý khi vận động tinh vì cậu ấy mất rất nhiều năng lượng cho việc nhìn để xác định đồ vật đã ở trong tay mình chưa.
Trơ lì xúc giác
Michael và lớp của cậu bé có một chuyến dã ngoại đến khu bảo tồn. Họ đã quyết định lội chân trần qua suốicho mát. Ngay khi lội xuống suối thì những người bạn cùng lớp của Michael nghe tiếng hét và chúng nhanh chóng nhảy lên bờ. Dưới lòng suối có đá nhọn làm đứt chân. Nhưng Michael thì vẫn tiếp tục vui vẻ lội dưới suối. Khi giáo viên gọi cậu bé lên và kiểm tra chân của cậu bé,Michael đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy những vết cắt trên chân mình. Sau đó,khi về nhà, Michael đã không cho mẹ rửa chân vì lúc này cậu cảm thấy rất đau.
Rối loạn chức năng tiền đình
Quá nhạy cảm
Saied từ từ ngồi vào bồn tắm nhìn con vịt đồ chơi đang nhấp nhô trong nước. Ông nội chuẩn bị để gội đầu cho Saied và ông bắt đầu ngửa đầu Saied lại phía sau để nhúng vào nước. Saied hét lên trong sợ hãi! Ông nội mở to mắt hoảng hốt! Điều gì đã làm đau cháu của ông đến vậy? Ông cố gắng thử lại một lần nữa, làm yên lòng Saied và di chuyển một cách chậm rãi. Saied lại hét lên. Ông nội quyết định gội đầu cho Saied bằng cách bịt mắt của cậu bé và dội nước lên đầu khi cậu bé đang ngồi. Saied không thích nhưng thà như vậy còn hơn là nhúng đầu vào nước.
Luôn muốn vận động
Ella đã nhảy suốt trong giờ học nhóm buổi sáng và chạy đến một góc của tòa nhà. Cô bé trèo lên máng trượt và nhảy xuống. Giáo viên hỗ trợ đi theo Ella và đưa cô bé trở lại nhóm. Ella vui vẻ trở lại chỗ cũ nhưng chỉ ngồi được trong tích tắc và sau đó cô bé lại chạy ra. Ella hiếm khi ngồi một chỗ suốt bữa ăn. Cô bé thường cắn một miếng thức ăn, chạy xung quanh bàn, sau đó quay lại và cắn một miếng khác. Khi Ella được cho phép ngồi lên ghế bập bênh trong giờ học và giờ ăn, năng lực ngồi yên của cô bé được cải thiện đáng kể.
Trơ lì
Shawna thích đi trên bờ đá trong vườn của Catherine. Ở góc vườn, Shawna thường đi rất nhanh, khiến cô bé trượt ra khỏi bờ đá và ngã xuống vườn hoa. Catherine nhắc Shawna đi chậm lại nhưng Shawna vẫn tiếp tục đi dọc bờ đá và lại ngã xuống vườn hoa. Catherine tự hỏi tại sao Shawna lại lặp lại những sai lầm hết lần này đến lần khác như thế.
Rối loạn chức năng cơ khớp vận động
Không thể xác định chính xác vị trí của của mình
Liam thường hay đâm sầm vào mọi vật. Cậu ấy tông vào các bạn cùng lớp khi xếp hàng ở cửa. Khi mở cửa cho giáo viên, cậu lại đẩy cánh cửa quá mạnh làm nó đập vào tường.Cậu bé có khó khăn trong việc tô màu bởi vì cậu luôn ấn quá mạnh và làm thủng giấy.
Không xác định được lực cần thiết
Mira có khó khăn trong việc dùng tay điều khiển công cụ. Bàn chải đánh răng thường rơi khi cô bé cố gắng chải răng. Cô bé dường như không thể điều khiển được lược và thường chải tóc bằng phần sống (gáy) của lược. Cô bé cầm bút chì rất lỏng lẻo và trông có vẻ khó khăn để dồn đủ lực lên đầu bút chì. Chữ viết của cô bé rất mờ và đường nét không ngay ngắn. Mira dùng mắt để điều khiển chuyển động và đồ vật trong tay. Cô bé không thể viết được khi cùng lúc nhìn lên bảng hoặc nhìn vào sách.
Kumiko sẽ dựa vào bất cứ ai hoặc vật gì có thể để hỗ trợ cô bé. Trong giờ học, cô bé luôn dựa vào bạn bên cạnh, nhiều đến mức khiến các bạn học không thích điều đó. Khi ngồi trên bàn, Kumiko tì bụng vào cạnh bàn và thường chống cằm. Cô bé không thể đi giữa hành lang mà phải vịn tay hoặc đi dọc theo bức tường.
Tom nhạy cảm quá mức với sự đụng chạm và những âm thanh lạ, nhưng cậu bé thích được ôm siết. Cậu bé đè mạnh vào mọi thứ. Cậu thích những trò cảm giác mạnh và chỉ ngủ khi quấn chặt chăn vào người. Khi buồn bực, giận dữ hoặc bấn loạn Tom sẽ ấn cằm mình vào tay, vào lưng hoặc chân của bố mẹ. Bố mẹ Tom thường xoa lưng để giúp cậu bình tĩnh trở lại. Cậu bé sẽ tìm những nơi thật chật chội để len vào và thường vùi đầu vào gối. Việc tìm kiếm các cảm giác áp lực của Tom dường như chiếm phần lớn thời gian và năng lượng của cậu bé.
Sàng lọc về nhận thức cảm tính
Hệ xúc giác
Trẻ của bạn có?
Tránh sờ hay tiếp xúc?
Không thích và tránh chơi cái gì bẩn thỉu?
Cảm thấy bực bội khi chạm phải các loại thức ăn hay quần áo nào đó?
Cảm thấy bực bội khi ai đó đến sát bên cạnh?
Thường lăng xăng hay lo lắng?
Khó khăn trong việc thao tác các vật nhỏ?
Sử dụng bàn tay để khám phá đồ vật?
Cho đồ vật vào miệng?
Bảng quan sát kỹ năng ăn uống
Xúc giác
Thích ăn một loại đồ ăn nào đó và đồ ăn nóng
Không thích thêm đồ ăn “lạ” vào thức ăn (VD: mì trong súp)
Thường xuyên ọe khi thay đổi vị của thức ăn
Khó ăn kiêng do những rào cản về giác quan
Gặp khó khăn trong việc sử dụng thìa, nỉa để đưa thức ăn vào miệng, thích những thức ăn có thể ăn bốc
Thường xuyên uống nước trong quá trình ăn để làm sạch thức ăn trong miệng
Không cảm nhận thức ăn trên mặt hoặc sạch quá mức
Chỉ sử dụng đầu ngón tay khi ăn, có khó khăn trong việc chạm vào lòng bàn tay
Là người kén cá chọn canh/ khó khăn trong ăn uống
Khó nhận biết cảm giác đau và nóng trong miệng hay giảm cảm giác đến mức có thể dẫn đến nghẹn
Bảng quan sát kỹ học học tập/ làm việc
Xúc giác
Tránh sự bày tỏ tình cảm khi thầy cô hay bạn cùng trang lứa ôm và vỗ về
Tỏ ra khó chịu khi có ai đó đụng chạm, gặp khó khăn khi xếp hàng, ngồi thành vòng tròn nhỏ hay làm việc trong một phạm vi giới hạn cùng với người khác
Không thích sử dụng tay để cầm viết hoặc cắt vật dụng
Không thích cầm các đồ nghề sửa chữa
Không thích dùng tay bôi keo, vẽ, dán giấy, đánh máy hay các đồ vật ướt và/hay dơ
Tỏ ra khó khăn khi tiếp nhận lời hướng dẫn mang tính trực tiếp ở khoảng cách gần và lời chỉ dẫn tay trên tay
Có khuynh hướng sử dụng miệng khi học về đồ chơi và các đồ vật khác, không sử dụng tay
Sử dụng tối thiểu việc sờ chạm khi tiếp xúc với bàn phím
Sờ đồ vật hoặc người nào đó quá mức
Phản ứng dữ dội khi có ai đó chạm vào
Tỏ ra bực bội khi phải xếp hàng hay ngồi học trong giờ học chung
Bảng quan sát kỹ năng chơi
Xúc giác
Sờ đồ vật hoặc người quá mạnh
Tính cách cứng nhắc, dè dặt
Không thích bừa bộn
Không sử dụng cả bàn tay mà chỉ thích sử dụng đầu ngón tay
Phản ứng hung hăng khi ai đó chạm vào người
Giảm cảm giác đau và cảm giác nhiệt
Dùng miệng gặm đồ vật nếu tay nhạy cảm quá mức
Rất thích một vài chất liệu nào đó của đồ chơi
Lựa chọn những đồ chơi đã biết trước để giảm sự bất ngờ
Thích trò chơi lau khô chỗ dơ/ ướt
Sử dụng các đồ chơi một cách khác nhau hơn là theo dự kiến – có thể sử dụng chúng vì mục đích giác quan hơn là vui chơi
Bảng quan sát kỹ năng xã hội
Xúc giác
Tự tách biệt khi có ai đó sờ vào mình
Không thích có mặt ở những chỗ đông người và những nhóm trẻ vì sợ bị va chạm vào nhau
Phản ứng hung hăng khi có ai đó va vào hoặc sờ vào mình
Có cảm giác khó chịu khi được ai đó ôm, hôn và thể hiện sự yêu mến
Gặp khó khăn khi làm việc cùng với người khác nếu như không gian đó quá nhỏ
Tìm kiếm cảm giác mạnh và thường xuyên đâm sầm vào ai đó
Tự làm tổn thương mình
Thích sờ vào đồ vật và người nào đó
Tính cách cứng nhắc và thận trọng
Những chiến lược quản lý hành vi mang tính thử thách
Bước đầu tiên: Tìm hiểu lý do đằng sau hành vi quan sát được
Bước thứ hai: Ngăn ngừa những hành vi có vấn đề xảy ra.
Bước thứ ba: Phát triển quy trình thống nhất để ứng dụng khi có hành vi xảy ra.
Phác đồ Wilbarger cho sự phòng vệ cảm giác
Bước đầu tiên: tạo áp lực mạnh lên bề mặt của hai cánh tay, lưng và hai chân thông qua việc sử dụng một bàn chải chuyên dụng đặc biệt.
Mát xa mạnh sử dụng một bàn chải chuyên dụng
Khuôn mặt và bụng là hai khu vực không bao giờ được chải.
Sau giai đoạn mát xa, đứa trẻ thu nhận những lực nén dễ chịu tới vai, khuỷu tay, cổ tay/ngón tay, hông, đầu gối/mắt cá chân và ngực.
Phác đồ Wilbarger cho sự phòng vệ cảm giác
Nếu không có thời gian hoàn thành cả hai bước này, thì không nên tạo ra áp lực.
Việc lặp lại toàn bộ quy trình này chỉ khoảng 3 phút.
Kỹ thuật này có thể liên kết với một thời khóa biểu chế độ kích thích cảm giác. Tiến trình này được lặp lại sau mỗi 90 phút. Sau một khoảng thời gian, tần số giảm xuống. Cuối cùng tiến trình có thể dừng lại.
Pat là một bé trai 4 tuổi được chẩn đoán là tự kỷ. Nhà trị liệu hoạt động của cậu ấy kết luận rằng cậu ấy có sự phòng vệ cảm giác. Pat phản ứng một cách đặc biệt đối với ánh sáng chói và những tiếng động mạnh hoặc không mong muốn. Cậu bé rất khó chịu trong môi trường có nhiều người và hoạt động. Trong những môi trường này, Pat trở nên lo lắng và sẽ chạy vòng quanh phòng. Điều này rất nguy hiểm trong những bãi đậu xe nơi mà Pat cố chạy và bố mẹ của cậu phải giữ cho con an toàn. Vấn đề này cũng xuất hiện khi bố mẹ cậu dẫn cậu đi mua sắm hoặc họp gia đình.
Kĩ thuật Wilbarger được khuyên như là một phần của kế hoạch can thiệp sớm bao gồm nhiều hoạt động cảm giác buộc phải thực hiện suốt cả ngày. Sau chỉ một tuần, bố mẹ của Pat nhận thấy giảm đáng kể mức độ lo lắng và những hành vi chạy lăng xăng của Pat. Sau một tháng , điều đó trở nên dễ dàng để dẫn Pat đi mua sắm và họp mặt gia đình. Cậu ấy cũng trở nên sẵn sàng để tương tác với trẻ cùng trang lứa và những người lớn xa lạ.
Chế độ kích thích cảm giác
Chế độ kích thích cảm giác là một kế hoạch và lịch chương trình hoạt động thiết kế để đáp ứng những nhu cầu cảm giác riêng biệt của một đứa trẻ.
Mỗi trẻ có những nhu cầu cảm giác riêng biệt và chế độ kích thích cảm giác của trẻ phải được điều chỉnh cho những nhu cầu và đáp ứng cá nhân. Một nhà trị liệu hoạt động cần phải đánh giá khả năng xử lý thông tin cảm tính và xác định những loại hoạt động cảm giác nào sẽ thuận lợi.
Mục đích
Ngăn ngừa cảm giác và cảm xúc quá ngưỡng bằng cách thỏa mãn những nhu cầu cảm giác của hệ thần kinh.
Tuy nhiên, nó cũng được sử dụng như là một kỹ thuật phục hồi.
Chế độ kích thích cảm giác/ Những điều chỉnh
Những kĩ thuật giữ bình tĩnh, tổ chức và cảnh báo chung
Những kĩ thuật giữ bình tĩnh
Sự xoa dịu cảm giác (sensory soothing)
Tắm bằng nước ấm
Mát xa tạo áp lực sâu, xoa lưng một cách dễ chịu
Ép khớp nối
Căng duỗi
Rúc đầu vào túi ngủ, ghế lười, hoặc cái gối lớn
Chăn đắp (Không quá nóng) hoặc quấn cho trẻ nhỏ hơn.
Bóp chắc tay và chạm da trực tiếp
Đu đưa và lắc lư nhẹ - ghế đu đưa, trong lòng hoặc cánh tay của người lớn, trẻ nằm cả người trên bụng người lớn
Đu đưa nhẹ trước và sau lưng trong một cai chăn.
Quần áo thun bó
Áo ghi lê cao su tổng hợp
Cổ áo hoặc áo ghi lê nặng
Cổ áo “rắn” – Một dải nệm mút quấn trên cổ như con rắn (hướng dẫn làm một cổ áo rắn trong chương 9)
Cây oải hương, vani, chuối hoặc những mùi nhẹ nhàng khác.
Mút
Nơi ẩn náu, nơi có thể chui vào, hoặc góc yên tĩnh.
Đồ chơi phát ra tiếng động
Thả lỏng cơ nhiều hơn
Tiếng động nhẹ và âm nhạc yên tĩnh với nhịp ổn định
Ôm áp cổ (mặt trẻ xa người lớn)
Ôm một gấu bông, để trẻ tự ôm
Những ngón tay chạm vào nhau và kéo mạnh
Giảm tiếng ồn và mức độ chiếu sáng (Tắt tivi, radio, đèn)
Áo khoác nặng
- Chiếc áo mang lại cho người mặc một áp lực sâu và sự điềm tĩnh.
Có những trẻ cả ngày lo lắng, bồn chồn nhưng nếu khoác vào một chiếc áo khoác nặng và có lót đệm bên trong sẽ cảm thấy điềm tĩnh hơn, và có thể vững vàng trước áp lực. Williams (1996) cho rằng quần áo có lót đệm có thể bảo vệ hệ thống xúc giác nhạy cảm cao với cảm giác bên ngoài.
Không có nghiên cứu cụ thể nào về việc sử dụng một chiếc áo khoác nặng. Theo kinh nghiệm lâm sàng của chúng tôi, trẻ em không ngừng tìm kiếm cảm giác áp lực sâu, là cảm giác phòng thủ và có thể dễ dàng bị phân tâm (hoặc những người có nhận thức cơ thể kém) có thể tận dụng tác dụng của chiếc áo khoác nặng.
Áo khoác nặng
Máy ép
Con rắn nặng/Cổ áo nặng
Bàn chải chuyên dụng
Ghế cảm giác
Những kĩ thuật tổ chức
Những kinh nghiệm tổ chức có thể giúp một đứa trẻ hoặc hoạt động quá mức hoặc quá thụ động trở nên tập trung và chú ý
Ngậm một núm vú giả hoặc kẹo cứng hoặc ống hút xoắn.
Sự rung động – sử dụng gối rung, viết rung có pin, đồ chơi mát xa
Hoạt động cảm thụ bản thể, đặc biệt là cầm, đẩy, kéo hoặc nhấc những vật nặng.
Nhai, thổi
Bơi
Những kĩ thuật cảnh báo
Những kinh nghiệm cảnh báo giúp trẻ có phản ứng kém đối với thông tin cảm tính đầu vào, thụ động, thờ ơ trở nên tập trung và chú ý hơn.
Nếu đứa trẻ ở trong tình trạng “ngưng hoạt động” trong việc phản ứng đối với tính phòng vệ cảm giác thì không nên sử dụng những kỉ thuật cảnh báo. Những hoạt động cảnh báo cần được theo dõi chặt chẽ để ngăn sự kích thích quá ngưỡng cảm giác.
Ánh sáng chói và không khí tươi mát, trong lành
Lắc lư mạnh
Sự chuyển động nhanh khó đoán trước (dội lên bóng, trong lòng, hoặc bàn nhún nhỏ)
Uống nuốc đá lạnh hoặc nước có ga
Chơi nước đá lạnh
Chạy tìm thẻ hoặc truyền thư
Ngồi trên một ghế bằng bóng, nệm nước, hoặc gối hơi
Phun sương nước lạnh từ bình xịt lên mặt
Nhạc lớn, nhanh và tiếng ồn bất ngờ
Đồ chơi nguyên nhân và kết quả với âm thanh và ánh sáng
Mùi kích thích mạnh (nước hoa, bạc hà cay)
Phòng kích thích thị giác
Những chiến lược giải quyết cho những hành vi có vấn đề cụ thể
Những hành vi tìm kiếm cảm giác
Những hành vi tránh né cảm giác
Rachel là bé gái 9 tuổi được chẩn đoán có rối loạn tự kỷ. Cô bé không nói nhưng giao tiếp bằng mắt và cử chỉ và bắt đầu sử dụng Hệ thống giao tiếp bằng hình ảnh.
Cô bé có mức hoạt động quá cao và gặp khó khăn lớn để tập trung vào những nhiệm vụ có tính chặt chẽ trong yêu cầu hành động, và bắt đầu thực hiện một số ít các hoạt động có mục đích.
Nhiều hành vi rập khuôn hoặc hành vi tự kích thích, gồm có lắc lư, nhảy và vỗ tay.
Rachel có sự nhạy cảm quá mức với kích thích âm thanh và giật mình hoảng hốt với các tiếng ồn.
=> Tư vấn để xem xét các vấn đề liên quan đến việc tăng hành vị tự xâm hại, ngủ ít và chậm phát triển vận động tinh của bé.
Rachel cào cấu các ngón tay và hành vi này xuất hiện nhiều ở trường khi cô bé căng thẳng.
Hành vi tự xâm hại là do cô bé có nhu cầu kích thích vào giác quan.
Rachel thực hiện rất nhiều hoạt động mang lại cảm giác mạnh (có áp lực mạnh lên cơ và khớp). Cô bé nhảy trên ghế, trên giường, chui vào những khe hẹp, mặc quần áo chật, đội mũ chật, và ôm chặt lấy cha mẹ để tìm sự dễ chịu.
Sự chưa chín muồi kỹ năng cầm nắm của Rachel ảnh hưởng đến việc cầm bút và kỹ năng tự phục vụ.
Rachel có khó khăn khi tập trung vào nhiệm vụ cả ở nhà và ở trường, khi mà cô bé dễ bị phân tán bởi các âm thanh. Mức độ hoạt động và hành vi tự xâm hại của Rachel tăng lên khi em ở trong môi trường ồn ào. Gia đình của Rachel phải rất yên lặng khi cô bé ngủ vì em rất dễ thức giấc.
Can thiệp
Sử dụng thuyết phối hợp giác quan để lý giải các hành vi tự kích thích và tự xâm hại của Rachel. Rachel phải tìm đến những kích thích giúp cho cô bé bình tĩnh và tổ chức lại hệ thần kinh. Cũng có nghi ngờ về mối quan hệ giữa việc tạo áp lực lên ngón tay và năng lực ứng phó với những tình huống căng thẳng của Rachel. Do đó cần tìm ra những cách thức tạo áp lực khác được xã hội chấp nhận và tránh sự tổn thương.
Các nhà trị liệu đề nghị:
Cần phải có các quãng nghỉ giữa giờ học, những thời gian đó sẽ có hoạt động nhảy trên giường bạt lò xo, chơi trò chơi kéo co, đấm túi cát. Những bài tập giữa giờ này được đưa vào trong thời khóa biểu hàng ngày giúp trẻ biết trước được thời điểm thực hiện chúng.
Quấn các ngón tay lại trong các hoạt động căng thẳng. Điều quan trọng là phải giám sát trẻ khi quấn các sợi thun/dây cao su co giãn này vì trẻ thường hay siết chặt hơn.
Cần phải mặc một bộ quần áo nặng ở lớp và ở nhà khi cần chú ý thực hiện các nhiệm vụ mang tính trật tự/cấu trúc.
Mặc quần áo nịt bó giúp cô bé giảm sự nhạy cảm quá mức đối với các kích thích vào giác quan.
Để phát triển hơn chức năng cầm nắm:
Sử dụng những mẩu bút màu đã gãy khi vẽ và bút chì có miếng cố định khi cầm.
Rachel thích các miếng dán nên bé được khuyến khích lột các miếng dán và tạo thành các hình khác nhau.
Cô bé cũng được khuyến khích quấn dây cao su quanh các cọc vì bé thích việc này.
Kết quả
Những hành vi tự xâm hại của Rachel giảm hẳn và nhu cầu quấn dây cao su quanh ngón tay cũng giảm bớt.
Những hành vi tự kích thích của Rachel cũng giảm khi các kích thích phù hợp với xã hội được đưa ra trong suốt các quãng nghỉ làm thỏa mãn nhu cầu về cảm nhận kích thích cơ thể của cô bé.
Hành vi chú ý của Rachel được cải thiện. Cô bé bắt đầu phát triển các kỹ năng sử dụng máy vi tính đầu tiên, và hợp tác hơn trong khi tập giao tiếp. Rachel bắt đầu ngủ liên tục suốt đêm, điều chưa từng có trước đây.
Và cô bé cũng thể hiện sự tiến bộ trong kỹ năng sử dụng bút chì và tự phục vụ, có thể nhặt và thao tác với đồ vật tốt hơn.
Mặc quần áo
Nên biết độ nhạy cảm về chất liệu; mua loại quần áo mà bạn biết con bạn sẽ thích (sẽ có ích khi trẻ đến trường dù quần này áo kia mà cảm thấy dễ chịu còn hơn là đến trường mặc đẹp nhưng bức bối)
Chuẩn bị tủ quần áo cảm thấy dễ chịu cho con bạn.
Khuyến khích xoa bóp áp lực sâu trước khi thay quần áo để giảm độ nhạy cảm xúc giác.
Mặc quần áo lót để tránh các đường chỉ và nhãn mác gây trầy xước.
Tăng mức chịu đựng khi đội nón bằng cách xoa bóp da đầu và đội nón trước gương.
Nếu con bạn gặp khó khăn với các hoạt động hướng dẫn bằng mắt, hãy kích thích hệ giác quan khác thay thế (xúc giác).
Lưu ý khi có quá tải về thị giác và thính giác và cần hạn chế tối đa điều này.
Thay quần áo cho trẻ trước gương nhằm thêm gợi ý về hình ảnh để hỗ trợ cho kỹ năng lập kế hoạch vận động.
Chia nhỏ quá trình thay quần áo và để con bạn làm khâu cuối cùng, rồi khâu thứ hai, thứ ba từ dưới lên, v.v.
Mặc quần áo gồm nhiều kỹ năng: nhận thức về thị giác, lập kế hoạch vận động và kỹ Nếu con bạn gặp khó khăn khi bắt đầu một hành động nào đó, hãy bắt đầu hành động đó và để con bạn hoàn thành (vd: kéo dây kéo)
Mặc quần áo
Nếu con bạn sợ hãi khi thay đổi tư thế, hãy thay quần áo cho trẻ chỉ ở một tư thế (trẻ mới biết đi có thể được thay tã khi đang đứng).
Nếu con bạn thích cởi quần áo, hãy thử Phác đồ Wilbarger về độ nhạy cảm xúc giác và xoa bóp.
Sử dụng phương pháp giao tiếp mở rộng để kích thích trẻ hiểu trình tự cởi quần áo.
Nếu con bạn có bàn chân nhạy cảm, hãy cho trẻ mang vớ và giặt giày cho mềm trước khi mang cho trẻ.
Hãy thử đi giày cột dây vì sẽ được buộc chặt hơn.
Cắt nhãn mác ra khỏi quần áo.
Giặt quần áo với xà phòng không mùi.
Sấy khô quần áo với chất làm mềm vải không mùi
Sấy quần áo bằng máy để giảm độ cứng
Chọn chất liệu mềm như bông thay vì chất liệu cứng như jean.
Cẩn thận với tiếng động do thắt lưng hay dây quần yếm gây ra.
Nếu con bạn không ngừng so vào tã hay quần áo lót, hãy thử cho trẻ mặc quần yếm.
Nên nhạy bén với độ dài tay áo và ống quần mà con bạn thích.
Lưu ý đến họa tiết trên vải và độ chi phối những họa tiết này gây ra.
Đảm bảo rằng quần áo vừa vặn; rằng chúng không cắt vào da khi con bạn thay đổi tư thế.




Phân tích hành vi ứng dụng (ABA)




S
R
ABA là gì?
Phân tích hành vi là cách tiếp cận có giá trị khoa học để hiểu hành vi và cách nó tác động đến môi trường. Trong ngữ cảnh này, “hành vi” là các hành động và kỹ năng. “Môi trường” bao gồm tất cả các tác động – vật lý hay xã hội – có thể thay đổi hoặc được thay đổi do hành vi của một cá nhân.
ABA là gì?
Nguyên tắc củng cố tích cực (theo quan điểm của tâm lý học hành vi): Khi một hành vi mà theo sau là một món quà thì hành vi đó sẽ có khả năng được lặp lại nhiều hơn.
ABA là gì?
ABA là một quá trình tìm hiểu và điều chỉnh hành vi. Nó thay đổi môi trường và kiểm soát những đáp ứng của cá nhân, dẫn đến kết quả là các hành vi thay đổi hoặc học được các kỹ năng sống.
ABA là gì?
Liệu pháp ABA có hình thức là một chương trình mang tính cấu trúc cao được thiết kế phù hợp với yêu cầu của từng cá nhân trẻ, trong khi xây dựng nền tảng cho việc học tập lâu dài.
ABA là gì?
Các kỹ thuật ABA có thể tạo ra sự cải thiện về giao tiếp, mối quan hệ xã hội, vui chơi, tự chăm sóc, học tập và nghề nghiệp. ABA làm gia tăng sự tham gia của người tự kỷ vào các hoạt động trong gia đình và cộng đồng.
ABA là gì?
Liệu pháp ABA đặc biệt hữu dụng trong việc dạy hành vi cho trẻ tự kỷ, những trẻ không thể tự lĩnh hội được những hành vi đó như những trẻ khác.
ABA dạy những kỹ năng này thông qua việc sự dụng các quan sát hành vi và các củng cố tích cực hoặc gợi ý để dạy từng bước một cho mỗi hành vi.
ABA bao gồm việc huấn luyện chuyên sâu từ các nhà trị liệu, thời lượng dành cho liệu pháp ABA mỗi tuần 20-40 giờ và có sự giám sát hàng tuần bởi các nhà quản lý lâm sàng có bằng cấp như nhà phân tích hành vi.
Kỹ thuật ABA và triết lý
Người can thiệp sử dụng nhiều quá trình phân tích hành vi, một vài quá trình trong số đó được người can thiệp làm trực tiếp và những quá trình khác do chính người học tiến hành.
Cha mẹ và/hoặc những thành viên khác trong gia đình và người chăm sóc được tập huấn để họ có thể hỗ trợ cho việc học tập và thực hành kỹ năng suốt ngày.
Một ngày của người học được thiết kế để mang lại nhiều cơ hội – cả những cơ hội được lập kế hoạch và những điều xảy ra ngẫu nhiên/tự nhiên – để lĩnh hội và thực hành các kỹ năng trong cả những tình huống được sắp xếp và những tình huống xảy ra bất ngờ.
Người học nhận được nhiều củng cố tích cực để thực hiện các kỹ năng có ích và các hành vi xã hội phù hợp. Tập trung vào những tương tác xã hội tích cực và học tập thú vị.
Người học không được củng cố những hành vi gây hại hoặc cản trở việc học.
Các kỹ thuật dùng trong ABA
Chuỗi
Gợi ý
Giảm dần
Định hình
Củng cố khác nhau
Khái quát hóa
Chuỗi
Kỹ năng cần học được chia thành những phần nhỏ để học.
Gợi ý
Cha mẹ và nhà trị liệu luôn hỗ trợ để thúc đẩy các phản ứng mong muốn ở trẻ. Mục tiêu là sử dụng ít nhất sự hướng dẫn mà vẫn có thể dẫn đến đáp ứng mong đợi. Các gợi ý có thể là:
Tín hiệu lời nói: «Hãy mở kem đánh răng ra, Bi.»
Tín hiệu thị giác: chỉ vào kem đánh răng.
Chỉ dẫn về thể chất/làm cùng: di chuyển tay trẻ để mở tuýp kem đánh răng.
Làm mẫu: cầm lấy tuýp kem đánh răng và mở nắp cho trẻ thấy.
Giảm dần
Mục tiêu chung là cuối cùng trẻ không cần gợi ý. Các gợi ý hướng dẫn sẽ được sử dụng ít nhất, để trẻ không trở nên quá phụ thuộc vào chúng khi học một hành vi hay kỹ năng mới. Các gợi ý hướng dẫn dần được giảm bớt khi học hành vi.
Định hình
Định hình là bổ sung dần dần các hành vi đang có của trẻ để tạo thành hành vi mong đợi.
Củng cố khác nhau
Củng cố là đáp ứng với hành vi của trẻ để sẽ làm tăng hành vi đó. “Khác nhau” là vì mức độ của các củng cố rất đa dạng phụ thuộc vào phản ứng của trẻ. Nhiệm vụ khó có thể được củng cố sâu/mạnh hơn các nhiệm vụ dễ.
Củng cố tích cực là sự khích lệ đưa ra cho những trẻ làm theo những yêu cầu để thay đổi hành vi. Mục tiêu là gia tăng cơ hội để trẻ phản ứng bằng hành vi đã được thay đổi. Củng cố tích cực được đưa ra ngay sau khi hành vi mong đợi xuất hiện để nó định hình hành vi của trẻ trong tương lai.
Khái quát hóa
Khi một kỹ năng đã được lĩnh hội trong môi trường có kiểm soát (thường là giờ học trên bàn), kỹ năng đó sẽ được dạy trong môi trường khái quát hơn. Nếu học sinh nắm bắt được việc học các màu trên bàn thì giáo viên có thể đưa trẻ đi xung quanh nhà hoặc trường và sau đó dạy lại kỹ năng này trong những môi trường tự nhiên hơn. Các nhà phân tích hành vi cần xem xét yếu tố thời gian dẫn đến sự khái quát hóa.
Lập kế hoạch và đánh giá
Các nhà phân tích hành vi có bằng cấp và được đào tạo sẽ xây dựng và quan sát trực tiếp quá trình can thiệp.
Sự phát triển các mục tiêu điều trị của các nhà trị liệu bắt nguồn từ các đánh giá chi tiết về kỹ năng và sở thích của người học và cũng có thể bao gồm các mục tiêu của gia đình.
Các mục tiêu trị liệu và dạy học được xây dựng phù hợp và hướng đến nhiều lĩnh vực kỹ năng như giao tiếp, xã hội, tự chăm sóc, vui chơi và giải trí, vận động và kỹ năng học đường.
Các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn nhấn mạnh đến các kỹ năng sẽ giúp người học trở nên độc lập và thành công hơn.
Kế hoạch giáo dục được chẻ nhỏ thành các kỹ năng mong đợi theo các bước để dạy từ đơn giản nhất (ví dụ như bắt chước các âm thanh đơn lẻ) đến phức tạp hơn (trò chuyện).
Việc can thiệp bao gồm sự đánh giá mục tiêu về sự tiến bộ của người học.
Nhà phân tích hành vi thường xuyên xem xét thông tin về sự tiến bộ của người học và sử dụng những thông tin đó để điều chỉnh quá trình và mục tiêu can thiệp nếu cần.
Nhà phân tích hành vi gặp các thành viên trong gia đình và trong chương trình can thiệp theo định kỳ/thường xuyên để lập kế hoạch tiếp theo, xem xét sự tiến bộ và đưa ra điều chỉnh nếu cần.
Những tiến bộ có thể kỳ vọng từ ABA
Can thiệp một cách chuyên nghiệp, thành thạo từ ABA có thể giúp người tự kỷ tạo nên những thay đổi có ý nghĩa trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, những thay đổi thường không xuất hiện nhanh. Hầu hết người học cần sự hướng dẫn với cường độ mạnh và liên tục để hình thành sự tiến bộ theo từng bước. Hơn nữa, tốc độ phát triển – giống như các mục tiêu can thiệp – thì rất đa dạng ở mỗi người và phụ thuộc vào lứa tuổi, mức độ chức năng, mục tiêu của gia đình và các yếu tố khác.
Một số người học đạt được các kỹ năng rất nhanh. Nhưng thông thường, tốc độ tiến bộ này chỉ diễn ra ở một vài lĩnh vực kỹ năng như đọc, trong khi đó lại cần nhiều sự dạy học và thực hành hơn nữa để lĩnh hội được các kỹ năng khác như tương tác với bạn bè.
Nhận xét về ABA
Sự can thiệp ABA hiệu quả cho trẻ tự kỷ không phải là tiếp cận “một cho tất cả” và không bao giờ được xem nó như là bộ chương trình hoặc các huấn luyện được “đóng gói”. Trái lại, một nhà trị liệu có kỹ năng phải ứng biến các can thiệp phù hợp với kỹ năng, nhu cầu, hứng thú, hoàn cảnh gia đình của từng người học. Vì những lý do đó mà một chương trình ABA cho người học này sẽ khác với chương trình cho người học khác.
Nhận xét về ABA
Cũng có sự chỉ trích việc hình thành hành vi như robot ở trẻ, cũng như việc sử dụng trừng phạt để làm giảm hoặc loại trừ các hành vi có vấn đề.
Đắt đỏ
Hệ thống giao tiếp
trao đổi hình ảnh
PECS
PECS là gì?
PECS được phát triển vào năm 1985 như là một gói can thiệp giao tiếp có lựa chọn cho các cá nhân rối loạn phổ tự kỷ và các khuyết tật phát triển liên quan.
PECS đã thành công với các cá nhân ở mọi độ tuổi có khó khăn về giao tiếp, nhận thức và khó khăn về thể chất/vận động.
PECS không đòi hỏi những tư liệu phức tạp và đắt tiền. Nó được thiết kế cho gia đình, các nhà giáo dục và những người cung cấp dịch vụ chăm sóc, do đó nó có thể sử dụng được trong nhiều môi trường.
Tuy nhiên, hệ thống PECS không cần thiết hoặc không phù hợp với những trẻ đã có mong muốn hoặc động cơ giao tiếp. PECS là một hệ thống tổng thể để phát triển hoàn toàn giao tiếp qua 6 giai đoạn. Không may là nhiều người sử dụng hệ thống này lại không bao giờ chuyển đến các giai đoạn phía trên.
PECS là gì?
PECS được sử dụng để tạo điều kiện phát triển kỹ năng giao tiếp chức năng ở trẻ em không sử dụng lời nói để giao tiếp.
Mục đích của PECS là dạy cho trẻ cách giao tiếp, để trẻ có thể giao tiếp với người khác mà không cần hỗ trợ. Sự phát triển và sử dụng lời nói không phải là mục tiêu đầu tiên của PECS, tuy nhiên PECS sẽ không cản trở sự phát triển lời nói và có thể cải thiện nó ở trẻ.
PECS là gì?
Trước khi bắt đầu PECS, điều quan trọng là cần phải biết trẻ thích gì. Điều này được xác định bằng cách chú ý đến những thứ trẻ luôn chọn.
PECS tiến hành một chuỗi các giai đoạn để hình thành kỹ năng giao tiếp mới, gồm có đưa ra yêu cầu và bình luận. Phương pháp bắt đầu bằng việc dạy cho trẻ cách giao tiếp bằng việc đưa yêu cầu về thứ mình muốn.
Giai đoạn I: Làm thế nào để giao tiếp
Trẻ học cách trao đổi một hình ảnh để lấy một đồ vật/thứ/hoạt động mà trẻ muốn.
Việc dạy bắt đầu khi người giao tiếp cùng trẻ đưa ra một hình ảnh về thứ mà trẻ rất muốn. Trẻ cầm hình lên và đưa cho người giao tiếp cùng để đổi lấy cái trẻ muốn. Người giao tiếp cùng đưa cho trẻ vật đó và gọi tên. – Phải chờ cho trẻ bắt đầu giao tiếp.
Cần hai người lớn để dạy ở giai đoạn này (một người giao tiếp cùng và một người hỗ trợ trẻ). Không cần phân biệt các hình ảnh.
Giai đoạn 2. Khoảng cách và Duy trì
Trẻ học khái quát hóa sự trao đổi bằng việc đi lại và sử dụng sách giao tiếp và giao tiếp với người giao tiếp cùng ở những nơi khác nhau, với những người khác nhau, khoảng cách khác nhau.
Những hình ảnhdđơn lẻ tiếp tục được sử dụng khi chưa yêu cầu phân biệt hình ảnh. Một quyển sách giao tiếp được thiế tkế để có thể bỏ thêm hình hoặc thay hình.
Giai đoạn 3. Phân bi
 
Gửi ý kiến